Trong xuất khẩu hàng hóa cần ưu tiên áp dụng điều kiện CIF hay FOB

Một vấn đề đặt ra là tại sao hiện nay hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam ưu tiên áp dụng hình thức xuất khẩu FOB và nhập CIF mà không áp dụng ngược lại.

Nếu như thực hiện theo hình thức ngược lại thì có ảnh hưởng đến giá trị gia tăng trong việc bán hàng của doanh nghiệp hay không?

Bài viết này Xuất nhập khẩu thực tế sẽ hỗ trợ bạn giải quyết vấn đề này.

1.Tìm hiểu về FOB và CIF

Trong Incoterms 2010 FOB và CIF là hai điều kiện được áp dụng trong vận chuyển hàng hóa xuất nhập khẩu phổ biến nhất.

Bao gồm có 4 nhóm điều kiện bao gồm: E, F, C, D, trong đó, CIF thuộc nhóm C và FOB thuộc nhóm F. Thực tế thì tùy vào từng điều kiện thì nhóm C hay F trong cùng một nhóm có thể thay thế cho nhau.

Ở nhóm C là điều kiện thuộc loại hợp đồng gửi hàng đi và nhóm F là mua bán hàng hóa thì nghĩa vụ của người mua- người bán và địa điểm chuyển giao rủi ro có sự khác biệt.

>>>>>>>>> Xem thêm: học xuất nhập khẩu thực tế ở đâu tốt

Ở điều kiện FOB (Free On Board), người mua có quyền yêu cầu người bán giao hàng cho người chuyên chở do họ chỉ định và tại địa điểm đi. Đối với điều kiện FOB, địa điểm và thời điểm chuyển giao được xác định là sau khi hàng hóa được xếp xong trên tàu tại cảng xếp hàng (Cảng đi). Như vậy ở điều kiện này, do người bán phải giao hàng cho người chuyên chở do người mua chỉ định, tại cảng xếp hàng chỉ định, tức là người đứng ra thuê và trả chi phí cho phương tiện vận tải (Tàu chở hàng) lúc này chính là người mua, và người mua bảo hiểm cho hàng cũng chính là bên mua. Xuất khẩu theo điều kiện thương mại này là kiểu mậu dịch bắt người mua hàng phải tự thân vận động và gánh vác hầu hết các nghĩa vụ cũng như rủi ro khi nhập khẩu hàng hóa.

Chuyển rủi ro trong Incoterms
Chuyển rủi ro trong Incoterms

Ở điều kiện CIF (Carriage, Insurance and Freight) thì ngược lại, sau khi hoàn tất việc ký hợp đồng mua bán hàng hóa, người mua chỉ cần thực hiện thủ tục thông quan nhập khẩu, còn lại việc giao hàng đến địa điểm của người mua chỉ định và mua bảo hiểm cho hàng hóa là trách nhiệm của người bán. Việc ai là người sẽ chỉ định phương tiện vận tải thường sẽ tùy theo thỏa thuận của 2 bên. Đồng thời mọi công tác cũng như thủ tục trong quá trình vận chuyển, giao hàng sẽ do bên bán đảm trách. Miễn sao cuối cùng hàng hóa của họ cặp cảng nhập khẩu theo đúng lộ trình và thỏa thuận ghi trong hợp đồng. Công việc mua bảo hiểm cũng được bên bán chịu trách nhiệm chính. (Người bán chỉ mua bảo hiểm theo điều kiện tối thiểu) Dĩ nhiên là trách nhiệm với hợp đồng và hàng hóa vẫn là trách nhiệm chung của cả 2 bên, nên đòi hỏi bên mua cũng như bên bán sẽ có những kiến nghị, san sẽ và thỏa thuận riêng trong suốt quá trình mua bán.

2.Trường hợp nào mua/bán giá FOB, và ngược lại đối với giá CIF

Trong hợp đồng thương mại, incoterms quy định rõ là người mua sẽ chịu nhiều trong điều kiện FOB và người bán sẽ chịu nhiều trách nhiệm hơn trong điều kiện CIF.

Theo người mua hàng, giữa 2 điều kiện FOB và CIF thì những người mua hàng mà mức độ thỏa mãn của họ chỉ dừng lại ở việc mua được hàng, nguyên vật liệu với mức giá phải chăng, thì họ sẽ thích mua theo FOB. Cũng có khi người mua có chiến lược mua hàng tại Việt Nam và bán hàng của chúng ta dọc đường, nên họ sẽ dành quyền vận chuyển hàng và chịu trách nhiệm với hàng ngay sau khi hàng rời cảng xếp. Một số nhà nhập khẩu vốn sở hữu các hợp đồng vận tải theo đó mang lại nhiều lợi ích cho họ (Ví dụ như được chiết khấu cước tàu, hưởng hoa hồng từ chủ tàu), cho nên họ sẽ thích sử dụng FOB hơn.

Còn những người mua muốn nhà cung ứng muốn bản thân hưởng các đặc quyền tuyệt đối của người mua cũng như né tránh các rủi ro, rắc rối không mong muốn, họ sẽ thích CIF hơn. Nhìn chung, những người mua hàng theo điều kiện CIF đánh giá cao năng lực vận tải và ký hợp đồng bảo hiểm của người bán, họ cũng đồng thời chấp nhận mức giá cả cao hơn so với giá cả thông thường (Vì nó có cả chi phí vận tải và bảo hiểm hàng hóa). Trường hợp này trong thực tế sẽ xảy ra khi thị trường hàng hóa tại đất nước nhập khẩu đang có nhu cầu cao và đang đi lên, trong khi phát triển vận tải ngoại thương tại nước xuất khẩu còn ở cấp độ non yếu, để mua được hàng, nhà nhập khẩu sẵn sàng chủ động trong việc đưa ra hoặc chấp thuận các đề nghị thanh toán và vận chuyển thuận tiện cho hai bên.

Đứng ở gốc độ người bán hàng cũng vậy, làm hàng theo điều kiện FOB giúp người bán bán được hàng nhanh chóng, kết thúc hợp đồng vận tải và chấp dứt trách nhiệm đối với hàng hóa ngay sau khi xếp xong hàng lên tàu. Các công ty Việt Nam thường xuất khẩu nguyên nhiên liệu, sản phẩm thô, hàng linh kiện , lắp ráp, bán thành phẩm là chủ yếu, cho nên giá trị gia tăng thấp, nhu cầu xoay vòng vốn nhanh và mạnh, cộng thêm thiếu kinh nghiệm trong công tác làm hàng xuất khẩu nên thường để các nhà nhập khẩu hàng hóa dành quyền thuê phương tiện vận tải và chịu trách nhiệm cho các chi phí phát sinh hay rủi ro trong quá trình vận chuyển hàng hóa. Điều này có nghĩa là việc xuất khẩu hàng hóa theo điều kiện FOB tại Việt Nam không phải phổ biến chỉ vì các nhà xuất khẩu của chúng ta thích, mà là vì với “thế” và “lực” hiện tại, đôi khi họ không còn chọn lựa nào khác ngoài con đường xuất giá FOB.

Có một thực tế là các công ty nước ngoài xuất khẩu hàng hóa sang Việt Nam hiện nay chủ yếu theo điều kiện nhóm C, mà phổ biến nhất là CIF. Tức là chúng ta đang nhập giá CIF (giá tương đối cao) và xuất giá FOB (giá tương đối thấp). Như lúc nãy đã nói, chúng ta xuất khẩu hàng thô, bán thành phẩm nhưng đồng thời lại nhập khẩu hàng thành phẩm và bán thành phẩm công nghiệp có giá trị gia tăng cao, như dược phẩm, đồ hộp, linh kiện ô tô, máy tính, hàng điện máy, điện lạnh, …v.v. Các nhà xuất khẩu biết rõ cơ cấu thị trường hàng hóa nước ta và thường có lợi thế trong việc quyết định mức giá và điều kiện Incoterms phù hợp mà vẫn đảm bảo các quyền lợi hợp tác tối thiểu.

Nhìn chung, khi nhập khẩu hàng hóa theo điều kiện CIF, các nhà nhập khẩu nước ta thường sẽ chịu thiệt về giá một chút, nhà xuất khẩu sẽ có lợi thế áp đảo về giá trên bàn đàm phán, nhưng bù lại, giống như suy nghĩ chung của rất nhiều người hiện nay: Khi chúng ta không có điều kiện đích thân mang hàng về đến nơi an toàn, thì tại sao lại từ chối dịch vụ này từ các công ty xuất khẩu giàu kinh nghiệm? Liệu đây có phải là lựa chọn sáng suốt, khi mà chúng ta đang lựa chọn một phương thức mua hàng có thể khiến hàng chúng ta mua được không những đắt hơn mà còn ngày một lệ thuộc hơn vào người bán?

Tại Việt Nam, chỉ có một số ít công ty lớn, có tiềm lực tài chính lẫn nhân lực làm hàng xuất nhập khẩu mới đủ sức thực hiện việc mua bán hàng hóa như một nhà buôn chuyên nghiệp. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ còn gặp khó khăn về vốn và phát triển nhân lực cũng như cạnh tranh về sản phẩm.

Như vậy, không phải các nhà xuất khẩu Việt Nam không thể xuất khẩu theo giá CIF nói riêng hay các điều kiện Incoterms có lợi khác nói chung, mà là các điều kiện để chúng ta tiến hành còn chưa cho phép ngày càng có nhiều và nhiều hơn nữa các công ty dám mạnh dạng đàm phán và ký hợp đồng xuất khẩu theo hướng trên. Hơn nữa việc ký hợp đồng theo điều kiện Incoterms nào (CIF hay FOB) còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố trên bàn đàm phán, như : Tình hình thị trường hàng hóa, tình hình giá cả, khả năng thuê phương tiện vận tải và ký hợp đồng bảo hiểm của bên mua hoặc bên bán, chính sách phát triển kinh tế ngoại thương của Nhà Nước,…

3.Lợi ích của xuất khẩu theo giá CIF

Thực tế, bán hàng theo giá CIF mang nhiều lợi ích hơn vì giá bán cao, chủ động trong việc luân chuyển, càng chủ động hơn trên bàn đàm phán, xây dựng được uy tín và quan hệ lâu bền với khách hàng,..

Về giá cả:
Không nên hiểu bán hàng điều kiện CIF góp phần nâng giá bán lên mà là nâng giá trị gia tăng của hàng hóa lên.

Khi thuyết phục khách hàng ký hợp đồng mua-bán theo giá CIF, người bán có lợi thế trong việc thuyết phục người mua chấp nhận mua hàng tại vùng giá cao mong muốn.

Ở giá FOB, vùng giá bán có thể dừng lại ở mức đạt lợi nhuận tối thiểu, nhưng khi ký hợp đồng theo giá CIF, ngoài việc tính thêm cước phí vận tải và bảo hiểm, một số chi phí khác, giá trị của hợp đồng có thể được xác lập ở những vùng giá cao hơn, tùy thuộc vào giá trị các dịch vụ mà người bán cung cấp, và chứng minh cho người mua.Thuê và ký hợp đồng vận tải, mua bảo hiểm ở điều kiện tối thiểu cho hàng, bảo quản hàng hóa trong quá trình vận chuyển, thủ tục xuất khẩu,…được xem như là những dịch vụ vô hình nằm ngoài giá trị thuần của sản phẩm nhưng lại đóng vai trò không thể thiếu trong quá trình định giá sản phẩm.

Điều kiện CIF trong Incoterms
Điều kiện CIF trong Incoterms

Thực tế khó thuyết phục người mua mua giá CIF.

Các đội tàu nước ngoài đang mạnh lên và có ưu thế cạnh tranh với các đội tàu nước ta về cả số lượng và chất lượng. Nhà nhập khẩu nước ngoài thừa sức mua hàng và tự vận cuyển hàng về nước họ. Việc ký hợp đồng theo giá CIF là một chuyện, nhưng việc có thuê được hợp đồng vận tải có lợi, có bị ép giá hay không lại là một chuyện. Có nhiều trường hợp xảy ra khiến cho các chi phí liên quan phát sinh trong quá trình làm hàng, ảnh hưởng không nhỏ tới lợi nhuận.

Trước khi tiến hành đàm phán, các nhà đàm phán xuất khẩu thường liên hệ với các đại lý vận tải trước, sau đó trước khi ký hợp đồng lại xác nhận lại một lần nữa mức cước phí. Việc chọn đúng hãng tàu có uy tín, có trách nhiệm là một trong những khâu then chốt. Ngoài ra, nhà xuất khẩu cũng không lường trước việc các đại lý vận tải tăng giá cước liên tục (Tình trạng hiện nay), khiến chi phí xuất khẩu tăng cao, dẫn tới việc đội giá, làm giảm lợi thế cạnh tranh, tạo ra mức giá không thu hút lẫn thuyết phục người mua.

Ngoài ra, còn có một số lợi ích như:

  • Cải thiện năng lực vận tải ngoại thương và quản trị xuất nhập khẩu:
  • Tăng dự trữ ngoại hối, nâng cao tiềm lực và uy tín của các công ty xuất nhập khẩu

>>>>>> Bài viết tham khảo: Bản tóm tắt về các điều kiện về incoterms

Trong xuất khẩu hàng hóa cần ưu tiên áp dụng điều kiện CIF hay FOB
5 (100%) 1 vote

Add a Comment

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *