Chế độ nhập khẩu hàng hóa vào Nhật Bản

Nếu doanh nghiệp của bạn đang cân nhắc việc nhập khẩu hàng hóa vào Nhật Bản, cần đặc biệt lưu ý đến chế độ nhập khẩu hàng bởi Nhật Bản có chế độ nhập khẩu hàng rất nghiêm khắc. Không ngẫu nhiên mà nhiều doanh nghiệp than vãn về việc nhập khẩu hàng vào Nhật Bản ngặt nghèo. Vì vậy, bạn có thể tham khảo bài viết dưới đây để hiểu rõ hơn về chính sách nhập khẩu hàng hóa của Nhật Bản.

>>>>> Xem thêm: Thủ tục nhập khẩu dược phẩm

Các mặt hàng nhập khẩu tư do không hạn chế:

Trên nguyên tắc, ngoại trừ một số ít mặt hàng, Thị trường Nhật Bản là tự do trong lĩnh vực ngoại thương. Hiện tại hầu hết hàng nhập khẩu là các mặt hàng nhập khẩu tư do mà không cần xin phép của Bộ Công nghiệp và Thương mại.

Các mặt hàng nhập khẩu hạn chế:

Một số mặt hàng nhập khẩu cần có sự phê chuẩn của Bộ trưởng Bộ công nghiệp và thương mại ghi trong giấy thông báo nhập khẩu phù hợp với các qui định về kiểm soát nhập khẩu. Thông báo này ghi rõ: (1) 66 mặt hàng hạn chế nhập khẩu cần hạn ngạch nhập khẩu là vật nuôi, cây cối, các sản phẩm qui định trong công ước Washington. (2) Các hàng hoá sản xuất ở các gia mà cần phải có sự đồng ý cho phép nhập khẩu trước khi nhập khẩu, hay những hàng hoá được vận chuyện đến từ các quớc gia này (có 13 mặt hàng bao gồm cá voi, các sản phẩm từ cá voi và các hải sản từ các khu vực có qui định đặc biệt)

Thông báo nhập khẩu được đăng trên công báo, trong tờ Tsusanaho Koho (Bản tin chính thức của MITI) và tờ Tsusho Koho (Nhật báo Jetro).

Các mặt hàng được tự do nhập khẩu

Hàng nhập khẩu mà không cần sự cho phép nhập khẩu hay xuất trình nhập khẩu và hoá đơn cho hải quan được gọi là các mặt hàng “tự do nhập khẩu”. Các mặt hàng này gồm có:

– Hàng hoá nhập khẩu có kim ngạch nhỏ hơn 5 triệu Yen, nhập khẩu cho các mục đích sử dụng cá nhân, hàng hoá liệt kê trong phụ lục 1 của lệnh kiểm soát nhập khẩu.

– Hành lý đem vào Nhật theo phụ lục 2 của lện kiểm soát nhập khẩu

– Hàng hoá được tạm thời bốc dỡ ở Nhật Bản.

Nhân viên hải quan quyết định mặt hàng nào thuợc diện hàng “tự do nhập khẩu”
Chế độ cấp giấy phép nhập khẩu

Hàng hóa khi nhập khẩu vào Nhật bạn được kiểm soát và phải được cấp giấy phép nhập khẩu.

xuất nhập khẩu hàng hóa vào thị trường nhật bản

Hàng nhập khẩu được qui định bởi lệnh kiểm soát nhập khẩu theo mục 6 điều 15 của Luật kiểm soát ngoại thương và ngoại hối. Các hàng hoà này gồm tất cả các loạio động sản. Kim loại quí (vàng thoi, vàng hợp chất, tiền đúc không lưu thông và các mặt hàng khác có hàm lượng vàng cao), chứng khoán, giấy chứng nhận tài sản vô hình,…không thuộc sự điều tiết của lệnh kiểm soát nhập khẩu mà do lệnh kiểm soát ngoại hối quio định. Tuy hầu hết hàng nhập khẩu không cần giấy phép nhập khẩu của MITI nhưng các mặt hàng sau gồm cả những mặt hàng liệt kê trong thông báo nhập khẩu kể trên cần có giấy phép nhập khẩu

+ Hàng thuộc 66 mặt hàng liệt kê trong thông báo nhập khẩu thuộc diện có hạn ngạch nhập khẩu

+ Hàng hoá sản xuất hay vận chuyển từ các quốc gia, khu vực qui định trong thông báo nhập khẩu đòi hỏi phải có giấy phép nhập khẩu

+ Hàng hoá đòi hỏi phương thức thanh toán đặc biệt.

+ Hàng hoá cần sự xác nhận sơ thẩm và phải đáp ứng được các qui định đặc biệt của Chính phủ như các loại vắcxin nghiên cứu.

Các mặt hàng nhập khẩu cần hạn ngạch (tính từ 1 tháng 7 năm 1995)
(Tham khao thêm tại trang web của Cục xúc tiến thương mại http://www.vietrade.gov.vn)

Khi nhập khẩu mặt hàng cần giấy phép nhập khẩu hay sự xác nhận của một số Bộ, các nhà nhập khẩu được toàn quyền ký hợp đồng với các nhà xuất khẩu, nhưng viêc ký và thực hiện hợp đồng phụ thuộc vào sự cho phép hay xác nhận của các Bộ có liên quan. Đặc biệt trong trường hợp hàng cần hạn ngạch nhập khẩu, nên nhớ rằng việc nhập khẩu các mặt hàng đó chỉ có thể sau khi có hạn ngạch nhập khẩu dựa theo thông báo hạn ngạch nhập khẩu chính thức.

Việc thanh toán hàng nhập khẩu cần giấy phép chỉ có thể thực hiện sau khi giấy phép nhập khẩu đã được cấp

Chế độ hạn ngạch nhập khẩu ở Nhật bản

Chế độ hạn ngạch nhập khẩu được xây dựng nhằm định ra hạn ngạch về số lượng và trị giá hàng hoá nhập vào Nhật Bản. Hạn ngạch được tính toán trên cơ sở cầu trong nước và các yếu tố khác. Thông báo nhập khẩu được xuất bản vào đầu và giữa năm tài chính, qui định trình tự các bước để xin hạn ngạch cho một hay một nhóm mặt hàng. Khi nhập khẩu một mặt hàng theo hạn ngạch, nhà nhập khẩu sẽ không được cấp giấy phép của ngân hàng quản lý ngoại hối hay các cơ quan khác nếu họ chưa xin được hạn ngạch của MITI.

Tổng giá trị hạn ngạch của một mặt hàng hay một nhóm hàng được xây dựng và từng hạn ngạch sẽ được phân cho các nhà nhập khẩu trong giới hạn của tổng hạn ngạch đó.

Các tiêu chuẩn sau được dùng để xem xét việc phân bố hạn ngạch nhập khẩu
Chế độ theo dõi việc phân bố hạn ngạch nhập khẩu

Theo chế độ này, hạn ngạch được phân bổ sẽ căn cứ vào tỉ lệ hạn ngạch của nhà nhập khẩu trong một thời kỳ cụ thể trong quá khứ so với tổng trị giá hay số lượng hạn ngạch của một mặt hàng hay một nhóm hàng.

Chế độ theo dõi việc thông quan

Theo chế độ này, trị giá hay số lượng hạn ngạch được phân bổ căn cứ vào tổng số lượng hay trị giá hạn ngạch dự tính hoặc đã thực hiện được trong thời gian trước.

Chế độ thông báo chính thức

Theo chế độ này, việc phân bổ hạn ngạch được căn cứ vào số lượng hay trị giá hạn tối đa do các cơ quan nhà nước phân trước cho các nhà nhập khẩu. Mức hạn ngạch được quyết định trước này được qui định trong các thông báo chính thức gởi các nhà nhập khẩu.

Chế độ theo đơn đặt hàng

Theo chế độ này, hạn ngạch được phân bổ hoặc căn cứ vào số lượng hoặc vào trị giá hàng đã được đặt mua bởi người tiêu dùng cuối cùng.

Chế độ theo đầu người

Theo chế độ này, số lượng và trị giá hạn ngạch được phân bổ bình đẳng cho các nhà nhập khẩu. Chế độ thường được dùng đi đôi với một trong hai chế độ theo dõi nói trên.

Chế độ Olympic (ai xin trước được trước)

Theo chế độ này, hạn ngạch được phân theo nguyên tắc “ai xin trước được trước” cho đến khi đạt đến một nữa số lượng hay trị giá cụ thể. Chế độ này có thể áp dụng cho các nhà nhập khẩu có tài liệu theo dõi việc thông quan cho một mặt hàng cụ thể nào đó, trong một thời kỳ nhất định trong quá khứ và nhà nhập khẩu này đã ký hợp đồng nhập khẩu mặt hàng đó.

Chế độ thống nhất ý kiến của các quan chức về phân bổ hạn ngạch

Theo chế độ này, hạn ngạch phân bổ cho nhà nhập khẩu sẽ được bàn bạc trong cuộc họp của các quan chức Bộ Công nghiệp và thương mại quốc tế và các Bộ khác.
Chế độ thông báo nhập khẩu

Các nhà nhập khẩu có ý định hoặc đã nhập khẩu hàng hoá phải đệ trình lên MITI một bản thông báo nhập khẩu thông qua ngân hàng quản lý ngoại hối thanh toán cho lô hàng đó. Chế độ này được sử dụng để xác nhận các khoản thanh toán của các ngân hàng quản lý ngoại hối. Bản thông báo nhập khẩu không cần phải xuất trình đối với các mặt hàng “tư do nhập khẩu” sau:

+ Các hàng hoá đặc biệt theo điều 14 của Luật kiểm soát nhập khẩu, gồmn lô hàng có giá trị nhỏ hơn 5 triệu Yên.

+ Các hàng hóa mà nhà nhập khẩu phải thanh toán toàn bộ tiền hàng.

Nhìn chung, những quy định về việc nhập khẩu hàng vào Nhật Bản khá khắt khe như vậy để đảm bảo chất lượng hàng hóa và sự an toàn cho người tiêu dùng Nhật Bản. Vì thế, Nhật Bản vẫn được ví là một trong những quốc gia có sự khắt khe nhất khi nhập khẩu hàng hóa, các doanh nghiệp khi nhắm đến thị trường Nhật Bản cần đặc biệt lưu ý đến điều này.

Để tìm hiểu nhiều hơn về nghiệp vụ xuất nhập khẩu, bạn có thể đọc thêm các bài viết tại website: xuatnhapkhauthucte.com

Bài viết tham khảo: học lớp xuất nhập khẩu ở đâu tốt

Chế độ nhập khẩu hàng hóa vào Nhật Bản
Đánh giá bài viết

Add a Comment

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *